Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

BỆNH VẨY NẾN VÀ BÁC SĨ GIỎI NHẤT

Vẩy Nến (Psoriasis) là một bệnh ngoài da mãn tính, hay tái phát. Đặc điểm của bệnh là có những vẩy khô mầu bạc hồng, rất ngứa, tụ gọn với nhau. Vẩy lớn nhỏ khác nhau thường có trên khuỷu tay, cánh tay trước, đầu gối, chân, da đầu và các bộ phận khác trong cơ thể.

Nguyên nhân


Nguyên nhân gây ra bệnh chưa được biết rõ. Một giải thích cho rằng hệ miễn dịch của cơ thể phát ra một tín hiệu khiến tế bào da tăng trưởng quá nhanh mà sinh ra bệnh. Cũng có giải thích bệnh do gene di truyền và nhiều người rong một gia đình có thể cùng bị bệnh.

Một số yếu tố có thể làm bệnh phát ra là: xúc động tâm lý mạnh; chấn thương liên tục trên da; nhiễm độc da và tác dụng của một vài dược phẩm. Bệnh có bất cứ ở tuổi nào nhưng thường là từ 2 tuổi tới 40 tuổi. Người da trắng thường mắc bệnh hơn người da mầu.

Triệu chứng

Bệnh thường xuất hiện từ từ. Đặc biệt của bệnh là xuất hiện một thời gian rồi thuyên giảm, sau đó tái phát, nhất là khi có chấn thương da, cháy nắng, viêm, dị ứng thuốc.

Vẩy bệnh thường có trên da đầu, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị bệnh. Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể.

Vết da đặc biệt nhất thường có cạnh rất rõ rệt, rất ngứa, hình bầu dục hoặc tròn với mầu hồng phủ trên với các vẩy mầu bạc, dầy, đục. Khi vết thương lành, nó không để lại sẹo và ở trên đầu, tóc vẫn mọc như thường. Trong 60% các trường hợp, móng tay móng chân cũng bị bệnh: móng chẻ, mất mầu dầy cộm nom như bị bệnh nấm.

Định bệnh

Bệnh chẩn đoán dễ dàng nhờ hình thù, mầu sắc của vẩy trên da cũng như sau khi làm sinh thiết tế bào da.

Tiên lượng

Vẩy nến là bệnh không lây lan. Ngoại trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp hoặc nhiễm độc, chứ bệnh vẩy nến thường không gây ra ảnh hưởng xấu cho sức khỏe tổng quát. Nếu có chỉ một chút ảnh hưởng tâm lý, buồn phiền vì da chẳng giống ai.

Bệnh nhẹ khi chỉ có dưới 2% da bị ảnh hưởng; trung bình khi có từ 3 đến 10% da bệnh và nặng khi trên 10% da có vẩy Tế bào ở các vẩy tăng sinh rất mau, chưa kịp rụng đã ra lớp khác nên các vầy chùm đè lên nhau. Bệnh gây khó chịu nhất khi xuất hiện ở da đầu, bìu dái, bàn tay, bàn chân và móng tay.

Điều trị
Trị liệu hiệu quả nhất là dùng thuốc bôi có Corticosteroid, Gudron, tia cực tím hoặc tắm nắng với thể vẩy nến khu trú.

Đối với bệnh vẩy nến toàn thân ta cần dung hòa trị liệu hệ thống, đặc biệt là Methotrexat. Ngoài ra, một hình thức hóa trị liệu mới là dùng Methosalen uống kết hợp với một nguồn ánh sáng từ ngoài có cường độ cao và bước sóng dài, người ta gọi là PUVA trị liệu.

Theo tôi bạn nên khám chuyên khoa da liễu để chẩn đoán chắc chắn và các bác sỹ kê đơn thuốc điều trị cho bạn.

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

NGUYÊN NHÂN GÂY RA BỆNH VẨY NẾN THEO ĐÔNG Y

Đông y chia bệnh vảy nến ra các thể bệnh khác nhau để có thể dễ nhận biết bệnh.

- Bạch Tiêu Phong (Can Tính Bì Chỉ Dật): Xuất hiện nhiều ở vùng đầu, thường có mầu trắng tro hoặc đục như mỡ, lâu ngày gây nên hói (rụng) tóc.

- Phong Nhiệt Sang (Mai Côi Đường Chẩn): nốt ban chủ yếu ở vùng khô, có hình tròn, hơi trắng bạc, có thể tự khỏi.
- Hồ Niệu Thích (Mao Phát Hồng Đường Chẩn): vết ban phía trên có đầu nhỏ mầu trắng đục, không làm trắng da và không rướm máu.
- Vảy nến thể chấm giọt: cần phân biệt với sẩn giang mai II (cộm, màu đỏ sẫm, có viền Biệt), Á vảy nến thể giọt (vảy màu nâu, cậy bong ra thành một lớp như gắn xi).
- Ở da đầu, da mặt trẻ em cần phân biệt với á sừng liên cầu.
- Ở các móng cần phân biệt với nấm móng.
- Ở nếp kẽ phân biệt với hăm kẽ, loét kẽ.
Thể Phong Nhiệt: Những nốt chấm xuất hiện nhiều, liên tục, lâu ngày to dần, mầu trắng đục, ngứa nhiều, mọc ở tay chân hoặc ở đầu, mặt, râu, gây hoại tử da sau đó có chấm xuất huyết. Kèm ngứa, sốt, khát, họng khô, đau, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi hơi vàng.
Thể Phong Huyết Táo (gặp ở thể bệnh kéo dài): Nhiều nốt ban chẩn mới ít xuất hiện, những nốt cũ mầu hơi đỏ, ngứa, mặt da khô, lưỡi ít tân dịch, rêu lưỡi hơi vàng mà khô.
Thể Phong Hàn: Nhiều vết chấm xuất hiện giống như đồng tiền hoặc từng mảng mầu hồng, trên mặt mụn có thể thối nát, phát bệnh quanh năm. Từ mùa đông đến mùa hè thường tự bớt hoặc giảm ẩn đi, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng nhạt.
Thể Thấp Nhiệt: Nhiều vết chấm xuất hiện giống như nước trong lỗ rỉ ra, xuất hiện ở bên dưới bầu vú, vùng hội âm, khuỷ tay, hố mắt, vùng sinh dục, mầu da có mầu hồng xám, thường gom lại thành mảng lớn, vùng tổn thương chảy nước mầu trắng đục, hơi ngứa, miệng khô, không khát, cơ thể nóng, mệt mỏi, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi vàng hoặc có ngấn bệu.
Thể Huyết Nhiệt: Mới phát hoặc tái phát không lâu, vết sần nổi lên như dạng đồng tiền hoặc như bùn, thường nổi hạt nhỏ như ban chẩn, to nhỏ không đều, mầu hồng tươi, mọc nhiều ở tứ chi, có thể mọc ở vùng đầu và mặt trước, bề mặt của vết sần có mầu trắng đục, khô, vỡ nát có khi có rướm máu, kèm ngứa, tâm phiền, khát, táo bón, tiểu ít, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi hơi vàng
Thể Huyết Ứ: Vết ban mầu đỏ tối hoặc tím, to nhỏ không đều, bề mặt hơi lõm, khô trắng đục, không bong da, có một ít vết ban nhỏ mới xuất hiện kèm theo ngứa hoặc không ngứa, miệng khô, không muốn uống, lưỡi đỏ tối hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi trắng nhạt hoặc hơi vàng.
Thể Huyết Hư: Cơ thể vốn suy yếu, bệnh kéo dài lâu ngày, da chuyển sang trắng bệch, nhiều vết ban có dạng giống như từng mảng hoặc phát ra toàn thân, mầu hồng nhạt ướt hoặc nhạt tối, bong da có những vết ban mới xuất hiện, ngứa, nặng hoặc nhẹ mầu da cũng không thay đổi, kèm chóng mặt, ít ngủ, ăn uống kém, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, ít tân dịch.
Mạch Xung Nhâm Không Điều Hoà: Da nổi nhiều nốt sẩn đặc biệt vào thời kỳ kinh nguyệt, có thai, sinh đẻ, đa số trước khi có kinh, đang có thai và trước khi sinh thì phát nặng hơn, có một ít sau khi có kinh và sau khi sinh mới phát. Toàn thân nổi lên những vết ban mọc thành đám, mầu đỏ tươi sau đó trở thành trắng đục, lúc mới phát có những vết xuất huyết. Toàn thân hơi ngứa,tâm phiền, miệng khô, đầu váng, lưng đau, lưỡi đỏ sẫm hoặc đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng.
Nhiệt Độc Thương Doanh: Phát bệnh nhanh, toàn thân đều nổi ban đỏ, đỏ tím, đỏ sẫm, nóng, ấn vào thì nhạt mầu, sưng phù, bong da, toàn thân sốt cao, sợ lạnh, tâm phiền, khát, tinh thần uể oải, tay chân không có sức, lưỡi đỏ sẫm, ít tân dịch.

TRIỆU CHỨNG VÀ NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VẨY NẾN

Bệnh vảy nến tiến triển lâu dài, nhiều đợt. Có khi sau một thời gian điều trị, bệnh ổn định, nhưng nếu không duy trì chế độ điều trị, sinh hoạt, làm việc hợp lý thì các thương tổn lại tái phát.

- Thương tổn da: Hay gặp và điển hình nhất là các dát đỏ có vẩy trắng phủ trên bề mặt, vẩy dày, có nhiều lớp xếp chồng lên nhau rất dễ bong và giống như giọt nến (vì vậy có tên gọi là “Vẩy nến”). Kích thước thương tổn to nhỏ khác nhau với đường kính từ 1- 20 cm hoặc lớn hơn.

Vị trí điển hình nhất của các dát đỏ có vẩy là vùng tì đè, hay cọ xát như: khuỷu tay, đầu gối, rìa tóc, vùng xương cùng, mông. Tuy nhiên sau một thời gian tiến triển các thương tổn có thể lan ra toàn thân.
- Thương tổn móng: Có khoảng 30% - 40% bệnh nhân vẩy nến bị tổn thương móng tay, móng chân. Các móng ngả màu vàng đục, có các chấm lỗ rỗ trên bề mặt. Có thể móng dày, dễ mủn hoặc mất cả móng.
- Thương tổn khớp: Tỷ lệ khớp bị thương tổn trong vẩy nến tùy từng thể. Thể nhẹ, thương tổn da khu trú, chỉ có khoảng 2% bệnh nhân có biểu hiện khớp. Trong khi đó ở thể nặng, dai dẳng có đến 20% bệnh nhân có thương tổn khớp. Biểu hiện hay gặp nhất là viêm khớp mạn tính, biến dạng khớp, cứng khớp, lệch khớp, bệnh nhân cử động đi lại rất khó khăn... Một số bệnh nhân thương tổn da rất ít nhưng biểu hiện ở khớp rất nặng, đặc biệt là khớp gối và cột sống.
Bệnh vảy nến tiến triển lâu dài, nhiều đợt. Có khi sau một thời gian điều trị, bệnh ổn định, nhưng nếu không duy trì chế độ điều trị, sinh hoạt, làm việc hợp lý thì các thương tổn lại tái phát.

NGUYÊN NHÂN GÂY RA BỆNH VẨY NẾN


Triệu chứng của bệnh vảy nến thay đổi tùy theo loại bệnh bạn mắc. Một số triệu chứng thông thường của bệnh vẩy nến mảng – dạng phổ biến nhất của bệnh, bao gồm: 

  • Những vùng màu đỏ, da tấy đỏ, thường xuyên bị bao bởi những vảy xốp, màu bạc. Những mảng này có thể gây ngứa và đau, đôi khi bị nứt và chảy máu. Trong những trường hơp nghiêm trọng, vùng da bị kích thích sẽ phát triển và nhập vào vùng khác, bao phủ một vùng lớn.
  • Sự rối loạn ở móng tay và móng chân, bao gồm sự đổi màu và các vết lõm trong móng. Móng cũng có thể bắt đầu bị vỡ và tách ra khỏi nền móng.
  • Vùng da đầu có vảy da hoặc vảy cứng. 
  • Những vùng nhỏ bị chảy máu khi da bị trầy xước.
  •  Bệnh vảy nến cũng có thể liên hệ với bệnh viêm khớp vảy nến, dẫn đến những cơn đau và sưng tấy ở khớp. Tổ chức nghiên cứu bệnh vảy nến quốc gia ước đoán khoảng 10-30% người mắc bệnh vảy nến cũng sẽ mắc bệnh viêm khớp vảy nến.

Cho những triệu chứng hiếm gặp hơn của bệnh vảy nến, hãy xem bài tổng quát sau:

Nguyên nhân làm bệnh vảy nến tái phát?


Trong khi những nguyên nhân tiềm tàng của bệnh vảy nến bắt nguồn từ hệ miễn dịch của cơ thể, những tác nhân kích thích nhất định có thể làm cho bệnh nặng hơn và tái phát. Bao gồm:

  • Thời tiết khô và lạnh. Thời tiết như thế có thể làm da bạn bị khô, làm cơ hội cho bệnh tái phát cao hơn. Ngược lại, thời tiết nóng, nhiều nắng có thể giúp kiểm soát các triệu chứng của bệnh ở đa số người.
  • Căng thẳng. Mắc bệnh vảy nến có thể tự gây ra căng thẳng và bệnh nhân thường báo cáo rằng các triệu chứng của bệnh bộc phát đặc biệt trong suốt thời gian căng thẳng đó.
  • Một số loại dược phẩm. Những loại thuốc nào đó, như là lithium (một cách điều trị phổ biến cho rối loạn lưỡng cực), thuốc sốt rét, và một vài loại thuốc beta-blocker (dùng để trị chứng cao huyết áp, bệnh tim, và một số chứng loạn nhịp tim) có thể làm bệnh vảy nến bộc phát.
  • Nhiễm trùng hay bệnh. Những loại bệnh nhiễm trùng nào đó, như viêm họng hay viêm amiđan có thể gây bệnh vảy nến giọt (guttate psoriasis) và những loại bệnh khác. Bệnh vảy nến có thể nặng thêm ở những người mắc bệnh HIV.
  • Tổn thương da. Ở một số người mắc bệnh vảy nến, tổn thương da – bao gồm đứt, bầm tím, bỏng, u bướu, tiêm chủng, vết xăm và những loại khác – có thể làm cho bệnh vảy nến bộc phát ở nơi bị tổn thương. Tình trạng này được gọi là “hiện tượng Koeboner”.
  • Chất có cồn. Sử dụng chất có cồn có thể gia tăng nguy cơ tái phát bệnh, chí ít là ở đàn ông.
  • Hút thuốc. Một số chuyên gia cho rằng hút thuốc có thể làm bệnh vảy nến nặng thêm.